Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.

Các nhà đầu tư khi lựa chọn hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế thường chọn đăng ký thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên thủ tục thành lập doanh nghiệp cho nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài sẽ có sự khác nhau trong đó. Và tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế cũng có sự hạn chế hơn nhà đầu tư trong nước.

Công ty Nam Việt Luật mời các bạn đọc bài viết này để hiểu rõ sự khác nhau về thủ tục pháp lý và tỷ lệ sở hữu vốn dành cho nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu trong nước.

Trước tiên là quy định về việc đầu tư thành lập tổ chức kinh tế trong Luật đầu tư 2014

Điều 22. Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

1. Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư thông qua tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp hoặc đầu tư theo hợp đồng.

3. Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:

a) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

b) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;

c) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Như vậy về thủ tục thành lập tổ chức kinh tế nói chung và thủ tục đăng ký doanh nghiệp nói riêng thì có sự khác nhau giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài như sau

+ Nhà đầu tư trong nước khi thành lập công ty chỉ cần tiến hành thủ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

+ Nhà đầu tư nước ngoài thì phải có dự án đầu tư để tiến hành thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, sau đó mới tiến hành thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài.

Về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ thì nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế trong các tổ chức kinh tế thuộc các trường hợp là công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán; là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác.

Nhà đầu tư nước ngoài nếu không thực hiện dự án đầu tư thông qua thành lập tổ chức kinh tế thì có thể đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp hoặc đầu tư theo hợp đồng.

Từ khóa liên quan:


Bạn đang có thắc mắc cần tư vấn ?

Hãy gọi Nam Việt Luật (24/7): 19006164 hoặc để lại lời nhắn

CHÚNG TÔI Ở ĐÂY ĐỂ PHỤC VỤ BẠN !